Nhân cách của người thầy là sức mạnh to lớn có ảnh hưởng đến học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kì câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ hệ thống khen thưởng trách phạt nào khác "

Ngày 19 tháng 08 năm 2017

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Góc tương tác » Góc giáo viên

Các bài viết của giáo viên

Cập nhật lúc : 15:30 17/09/2013  
Tản mạn: Dấu ấn thời gian về một ngôi trường


Trường Trung học Công lập Quảng Lộc, tọa lạc trên đất Phú Ngạn, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, được thành lập vào năm 1964 và niên khóa 1964-1965 bắt đầu có học sinh trung học, trường có phong cảnh rất hữu tình phía trước có con sông nhỏ của chi nhánh cuối nguồn sông Bồ, xa hơn có núi Kim Phụng, phía sau có cả một cánh đồng ruộng lúa bát ngát, và xa hơn là phá Tam Giang.

Quảng Điền là vùng đất trũng, có dòng sông Bồ tươi mát đã gởi gắm phù sa mặn, lạt cho đất mẹ (đồng ruộng Quảng Điền), cũng từ dòng sông này tạo nên vùng nông nghiệp của Huyện rất phát triển, là vựa lúa lớn của tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó, người dân Quảng Điền có đủ cơm no, áo ấm cho con em cắp sách đến trường rồi làm nên vùng đất có truyền thống hiếu học, vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử. Trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp huyện Quảng Điền chỉ có các trường Tiểu học, muốn học tiếp bậc trung học phải lên Huế học. Đến thời kỳ chống Mỹ cứu nước khoảng thập niên 1960, huyện Quảng Điền có ba trường trung học đệ nhất cấp: Trường Trung học Bán công Quảng Phước thành lập năm 1956, Trường Trung học Công lập Quảng Phước được thành lập vào ngày 22/7/1960 (hai trường này ở tại xã Quảng Phước). Trường thứ ba là Trường Trung học Công lập Quảng Lộc (hiện nay là xã Quảng An, Quảng Thành).

     Trường Trung học Công lập Quảng Lộc, tọa lạc trên đất Phú Ngạn, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, được thành lập vào năm 1964 và niên khóa 1964-1965 bắt đầu có học sinh trung học, trường có phong cảnh rất hữu tình phía trước có con sông nhỏ của chi nhánh cuối nguồn sông Bồ, xa hơn có núi Kim Phụng, phía sau có cả một cánh đồng ruộng lúa bát ngát, và xa hơn  là phá Tam Giang. Ngay ngày đầu thành lập trường, khi đặt đá xây dựng trường có treo một câu đối :

                                        " Tiền Ngũ Phụng sơn chung tứ khí

                                           Hậu Tam Giang thủy diễn ngân ba"

     Vào đầu năm học (niên khóa 1972-1973), chúng tôi thi vào trường ( lớp Đệ Thất), nhưng do chiến tranh, ngôi trường phải đóng cửa, phải mượn ngôi trường Liên hiệp  (đường Tăng Bạt Hổ) thuộc phường Phú Bình để học (có 4 khối 6,7, 8, 9). Từ năm học này Bộ Giáo Dục đổi tên lại là lớp 6 chứ không còn lớp Đệ thất nữa. Học sinh đa số là con em của các xã Quảng An, Quảng Thành, Hương Phong, Hương Vinh và một số bạn ở thành phố Huế.

     Học được một năm, vùng đất Quảng Lộc bắt đầu ổn định, dân trở lại bám đất, bám làng, làm nghề nông sinh sống và trường bắt đầu chuyển về quê, nhưng chưa học ngôi tường cũ, mà mượn 2 phòng học nhỏ ở làng An Thành để học, học sinh nào có hộ khẩu ở Huế thì học lớp 7/1, còn học sinh nào có hộ khẩu dưới quê thì học lớp 7/2. Niên khóa 1972-1973 có quý thầy cô giảng dạy: Thầy Phạm Sum (Hiệu trưởng), Thầy Nguyễn Bút, Thầy Trần Đại Vinh, Thầy Nguyễn Tri Đạt, Thầy Đô, Cô Tôn Nữ  Hoàng Chiếu, Cô Phước, Cô Phương Lan, Cô Hoàng Hoa, Cô Thu, …

     Đến niên khóa 1974-1975 chúng tôi mới thật sự vào học ngôi trường Trung học Công lập Quảng Lộc. Kể đến đây, từ khi chúng tôi thi đậu vào trường đến nay đã 41 năm nhưng những khuôn mặt bạn bè lớp 6/1, lớp 6/2 có già đi, đầu điểm bạc, nhưng tính tình vẫn còn ngây thơ, hồn nhiên như ngày nào vẫn còn trên khuôn mặt các bạn mỗi khi họp lớp. Học sinh Quảng Lộc nói chung và học sinh niên khóa 1972-1973 nói riêng vẫn có nhiều người thành đạt trên con đường học vấn (như bạn Đặng Phước Lợi – công tác ở Nga và nhiều bạn nữa…), cũng như trên thương trường làm ăn kinh tế giỏi (như bạn Trần Lam – doanh nghiệp lớn ở Bình Dương), bên cạnh đó vẫn có nhiều bạn lam lũ trong cuộc sống sinh nhai kiếm từng miếng cơm, manh áo để nuôi con ăn học thành tài, giúp ích cho xã hội.

     Hình ảnh của THẦY, CÔ ngày đó sao mà quá tận tụy với học trò, quá tôn trọng, quá yêu thương, đúng với đạo lý mà nhân dân ta thường nói: "Tôn sư trọng đạo"; "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Ví như thầy Nguyễn Bút dạy môn Văn, tôi còn nhớ năm học lớp 8, tác phẩm "Bích câu kỳ ngộ” (Khuyết danh), năm đó BGD bỏ, Thầy vào lớp giới thiệu: "Một tác phẩm rất là hay, mà tại sao Bộ bỏ , thôi thầy dạy sơ lược cho các em 4 tiết để biết được cái hay, cái thiện trong văn chương, sau Thầy sẽ dạy bù". Trong tác phẩm có những câu thơ như sau:   "  Mấy trăm năm một chữ tình

                     Dưới trời ai kẻ lọt vành hóa nhi...

                     Thành Tây có cảnh Bích Câu

                     Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao..."

     Rồi thầy Nguyễn Tri Đạt dạy Toán, những đường tròn nội tiếp, ngoại tiếp, parabol... sao mà dễ hiểu, dễ nhớ, nhiều khi thiếu thầy, thầy Đạt được phân công dạy thêm môn Lịch sử, thầy kể chuyện vua Quang Trung đại phá quân Thanh mà chúng tôi ngồi im phăng phắc, hai tai chổng lên để nghe, sau đó Thầy kết luận vua băng hà năm 39 tuổi do bệnh, chúng tôi thẩn thờ, tiếc nuối một vị anh hùng dân tộc với ý tưởng của tuổi thơ.

     Thầy Trần Đại Vinh dạy Văn, năm lớp 6 khi thầy giảng bài "Khói trắng" của tác giả Kiên Giang, nói về tình mẫu tử, người mẹ mua bánh" tai heo", "giấy học trò " cho con, mà phải bán đôi bông cưới..., những hàng cau trổ của một vùng quê, mẹ quét lá vàng ủ lấy phân, rồi khói trắng bay lên trời như tóc mẹ..., những ký ức đó còn đọng lại trong người học trò nhỏ này, không bao giờ quên được, những người thầy khi nào cũng tận tụy với học sinh. (Trích một đoạn của bài Khói trắng).

            " Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại

                  Con đau rên xiết mẹ sầu lo

                  Bán đôi bông cưới mua thang thuốc

                  Mua bánh tai heo, giấy học trò...

                  Chiều nay dừng gót trên bờ biển

                  Nhìn sống bạc đầu mây trắng trôi

                  Con ngỡ khói vườn hay tóc mẹ

                  Bay tìm con, lạc bước giữa đường đời ..."

       Ký ức xưa cứ mãi vọng về, hình ảnh người Thầy trong chúng tôi không ngôn từ nào diễn tả hết "tình nghĩa thầy trò", với lòng cưu mang, tận tụy, giúp đỡ  học sinh, như lời của người cha căn dặn:

                  …" Thầy chỉ hướng bước vào đời,

                         Con cố gằng, hết một thời học sinh.

                          Làm người có chí bình sinh,

                          Giúp nước, giúp đời hy sinh tất cả."…

     Ngôi tường đó sau ngày giải phóng 1975 vẫn tiếp tục học, có một thời bỏ trống và cũng một thời mang tên Trường vừa học vừa làm . Đến tháng 8/ 1999 ( năm học 1999-2000) trường được mang tên trường cấp 2 Quảng Thành, nhô cấp 3 (sau đó đổi tên thành trường THPT Hóa Châu). Đến năm 2004 trường THCS Quảng Thành được tách từ trường THPT Hóa Châu theo Quyết định số 696/QĐ-UB ngày 10/8/2004 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, còn trường cấp 3 Hóa Châu đóng tại đất Quảng An. Bắt đầu năm học 2013-2014 có quyết định số 1711-QĐ ngày 28/5/2013 của UBND huyện Quảng Điền đổi tên là Trường THCS Đặng Tất mang tên một vị anh hùng dân tộc thời nhà Trần được bổ vào làm Tri phủ châu Hóa.

     Với một ngôi trường có bề dài lịch sử, cũng như những bước thăng trầm theo thời gian, không một ai không khỏi ngậm ngùi nhớ về ngôi trường cũ, đã từng một thời ngồi trên ghế nhà trường. Tôi mong mỏi rằng những ai đã thành đạt từ ngôi trường này đóng góp những ý tưởng, cũng như vật chất của ít lòng nhiều để xây dựng cảnh quan và diện mạo trường ngày càng đẹp hơn. Tôi viết những dòng này với lòng biết ơn sâu xa những vị tiền bối đã có công xây dựng ngôi trường này, cũng như quý thầy, cô qua nhiều niên khóa đã chăm chút cho đàn con thành đạt ngày hôm nay. Và cũng để chia sẻ lời tri âm: “ Sự học là chìa khóa, mở các kho tàng vô tận”; bên cạnh đó “Không thầy đố mày làm nên” – Trường Trung học Công lập Quảng Lộc (nay là trường THCS Đặng Tất )./.

                                                                                                             Mùa hạ, 2013.

                                                                                                                   Trần Đạo

Chưa có bình luận nào cho bài viết này